Blockchain

Blockchain là công nghệ chuỗi – khối, cho phép truyền tải dữ liệu một cách an toàn dựa trên hệ thống mã hóa vô cùng phức tạp, tương tự như cuốn sổ cái kế toán của một công ty, nơi mà tiền được giám sát chặt chẽ và ghi nhận mọi giao dịch trên mạng ngang hàng. 

Mỗi khối (block) đều chứa thông tin về thời gian khởi tạo và được liên kết với khối trước đó, kèm theo đó là một mã thời gian và dữ liệu giao dịch. Dữ liệu khi đã được mạng lưới chấp nhận thì sẽ không có cách nào thay đổi được. Blockchain được thiết kế để chống lại việc gian lận, thay đổi của dữ liệu.

Năm 1991, Hệ thống Blockchain đã được mô tả vào bởi W. Scott Stornetta và cộng sự của ông là Stuart Haber. Với mục đích ban đầu là ghi chú thời gian vào các tệp tài liệu để dễ quản lý thông tin. Và các tệp dữ liệu này trở nên bất biến. Điều này có nghĩa là không ai có thể sửa đổi ngày với bất cứ hình thức nào.

Năm 2008, nền tài chính thế giới sụp đổ. Lần đầu tiên, khái niệm về hệ thống tiền mặt điện tử ngang hàng-phi tập trung (khái niệm nguyên sơ của hệ thống Blockchain). Khái niệm này được trình bày bởi một người hay một nhóm ẩn danh có tên là Satoshi Nakamoto, tạo ra một giao thức mã nguồn mở có tên là Bitcoin.

Bitcoin được thiết kế với tính năng nổi bật là chống chi tiêu hai lần bởi một giao thức mạng ngang hàng nhằm mục quản lý và theo dõi các giao dịch.

Ngày 03/01/2009, Bitcoin lần đầu ra đời bởi Satoshi Nakamoto khi ông xuất bản 50 khối Bitcoin. Sau đó, ông bán lại 10 khối Bitcoin cho một người thương nhân có tên là Half Finney, giao dịch về Bitcoin lần đầu tiên trên thế giới được diễn ra vào ngày 12/01/2009. 

Lần đầu tiên thế giới được biết đến công nghệ Blockchain!

Một cơ sở dữ liệu phân tán

Hãy tưởng tượng một bảng tính được nhân đôi hàng ngàn lần thông qua mạng lưới máy tính, mạng lưới này được thiết kế để cập nhật thường xuyên bảng tính đó là bạn đã có thể hiểu được cơ bản về blockchain.

Thông tin được tổ chức trên một blockchain tồn tại dưới dạng cơ sở dữ liệu được chia sẻ và hòa hợp liên tục. Đây là cách để sử dụng mạng với những lợi ích rõ ràng. Cơ sở dữ liệu blockchain không được lưu trữ ở duy nhất một vị trí nào, nghĩa là các bản ghi được lưu trữ một cách công khai, dễ kiểm chứng. Không có một phiên bản tập trung nào của cơ sở dữ liệu này tồn tại, nên hacker cũng chẳng có cơ hội nào để tấn công nó. Blockchain được lưu trữ bởi hàng triệu máy tính cùng lúc, dữ liệu của nó có thể truy cập bởi bất cứ ai trên Internet.

Blockchain giống như Google Docs

Cách chia sẻ tài liệu thông thường khi cộng tác là gửi tài liệu Microsoft Word cho một người khác qua email và yêu cầu họ sửa nó. Vấn đề trong trường hợp này là bạn cần phải đợi cho đến khi nhận được một bản sao lưu được gửi trở lại thì mới có thể xem hoặc thực hiện những thay đổi khác, vì đã bị khóa quyền chỉnh sửa cho đến khi người cộng tác của bạn hoàn tất việc chỉnh sửa. Đó là cách cơ sở dữ liệu hiện tại đang hoạt động. Hai chủ sở hữu không thể cùng chỉnh sửa một bản ghi cùng một lúc. Đó là cách các ngân hàng duy trì số dư và số chuyển khoản, họ nhanh chóng khóa quyền truy cập (hoặc giảm số dư) trong khi thực hiện chuyển khoản, rồi sau đó cập nhật tài khoản và mở lại quyền truy cập (hoặc cập nhật lại). Với Google Docs thì khác, cả hai bên đều có quyền truy cập đồng thời vào cùng một tài liệu và phiên bản duy nhất của tài liệu đó luôn hiển thị cho cả hai. Nó giống như sổ cái được chia sẻ, nhưng nó là một tài liệu được chia sẻ. Phần phân tán chỉ hoạt động khi chia sẻ liên quan đến một số người.

Lược dịch từ ý kiến của William Mougayar, cố vấn liên doanh, nhà kinh doanh 4x, nhà tiếp thị, chuyên gia chiến lược và chuyên gia blockchain.


Blockchain giống như Google Docs. (Nguồn: quantrimang.com) 

Tính bền vững của blockchain

Công nghệ blockchain giống như Internet vì nó có một sức mạnh được tích hợp sẵn. Bằng cách lưu trữ những khối thông tin giống nhau trên mạng lưới của mình, blockchain không thể:

  • Bị kiểm soát bởi bất kỳ một thực thể nào
  • Không có điểm thiếu sót, lỗi duy nhất nào.

Bitcoin được phát hành vào năm 2008, kể từ đó, blockchain Bitcoin được vận hành, hoạt động mà không có sự gián đoạn đáng kể nào. Đến này, bất kỳ vấn đề nào liên quan đến Bitcoin là do hack hoặc quản lý kém. Nói cách khác, những vấn đề này đến từ ý định xấu và lỗi của con người, không phải là những sai sót tự thân của Bitcoin.

Internet đã chứng minh được độ bền trong gần 30 năm. Đây là bản ghi theo dõi tốt cho công nghệ blockchain khi nó tiếp tục được phát triển.

Minh bạch và không thể bị phá vỡ

Mạng lưới blockchain tồn tại trong trạng thái của sự thỏa thuận, tự động kiểm tra 10 phút một lần. Một loại hệ sinh thái tự kiểm soát giá trị kỹ thuật số, mạng lưới sẽ điều hòa mọi giao dịch xảy ra trong khoảng 10 phút. Mỗi nhóm giao dịch này được gọi là khối. Hai đặc tính quan trong được rút ra từ đây:

  • Minh bạch: Dữ liệu được nhúng trong mạng như một khối, công khai.
  • Nó không bị thể bị hỏng: Khi thay đổi bất kỳ đơn vị thông tin nào trên blockchain có nghĩa là sử dụng một lượng lớn máy tính để ghi đè lên toàn bộ mạng.

Về lý thuyết, điều này có thể xảy ra. Trong thực tế, nó không xảy ra. Ví dụ, việc kiểm soát hệ thống để chiếm lấy Bitcoin sẽ khiến giá trị của nó bị hủy hoại.

Một mạng lưới các nút

Một mạng lưới các nút tính toán tạo thành blockchain. Nút ở đây là máy tính được kết nối với mạng blockchain, sử dụng client để thực hiện nhiệm vụ xác nhận và chuyển tiếp các giao dịch. Nút sẽ nhận được một bản sao của blockchain, được tải tự động khi tham gia mạng lưới blockchain.

Các nút này cùng nhau tạo ra một mạng lưới cấp 2 mạnh mẽ, một góc nhìn hoàn toàn khác về cách mà Internet có thể hoạt động. Mỗi nút là một "quản trị viên" của mạng blockchain và tự động tham gia vào mạng, động lực cho việc tham gia này chính là cơ hội giành được Bitcoin.

Nút còn được gọi là đào Bitcoin, nhưng thuật ngữ này có chút nhầm lẫn. Trong thực tế, mỗi người đang cạnh tranh để giành Bitcoin bằng cách giải quyết những câu đố. Bitcoin là "lẽ sống" của blockchain ngay từ khi nó được hình thành. Bitcoin mới chỉ được công nhận như một phần rất nhỏ trong số những tiềm năng của công nghệ blockchain.

Có khoảng 700 loại tiền kỹ thuật số tương tự như Bitcoin, ngoài ra còn có rất nhiều những biến thể của khái niệm blockchain ban đầu hiện đang hoạt động hoặc đang được phát triển.

Ý tưởng về phân quyền

Theo thiết kế, blockchain là một công nghệ được phân quyền. Bất cứ điều gì xảy ra trên đó đều là chức năng của mạng. Một số gợi ý quan trọng bắt nguồn từ điều này. Nhờ tạo ra cách mới để xác nhận giao dịch mà những khía cạnh của thương mại truyền thống có thể trở nên không cần thiết. Ví dụ như những giao dịch trên thị trường chứng khoán có thể thực hiện cùng lúc trên blockchain, hoặc có thể lưu trữ tài liệu giống như sổ đỏ, hoàn toàn công khai. Và sự phân quyền đã trở thành hiện thực.

Mạng máy tính toàn cầu sử dụng công nghệ blockchain để cùng quản lý cơ sở dữ liệu, ghi lại các giao dịch của Bitcoin. Tức là, Bitcoin được quản lý bởi mạng của nó và không một ai là trung tâm cả. Phân quyền có nghĩa là mạng lưới hoạt động dựa trên cơ sở người dùng hay P2P. Các hình thức hợp tác tập thể có thể thực hiện chỉ mới bắt đầu được nghiên cứu.

Tăng cường bảo mật

Nhờ lưu trữ dữ liệu trên mạng của mình, blockchain loại bỏ những rủi ro đi kèm với dữ liệu được tổ chức tập trung. Mạng của nó không có những điểm dễ bị tổn thương. Trong khi đó, vấn đề bảo mật trên Internet thì ngày càng trở nên phức tạp. Chúng ta đều dựa vào hệ thống username/password để bảo vệ danh tính và tài sản của mình trên mạng, nhưng hệ thống này vẫn có nhiều khả năng bị phá vỡ. Phương pháp bảo mật của blockchain sử dụng công nghệ mã hóa với cặp khóa public/private.

Khóa public (một chuỗi dài các số ngẫu nhiên) là địa chỉ của người dùng trên blockchain. Bitcoin gửi qua mạng sẽ được ghi nhận thuộc về địa chỉ đó. Khóa private giống như mật khẩu, cho phép chủ sở hữu truy cập vào Bitcoin hoặc các tài sản kỹ thuật số khác. Lưu trữ dữ liệu trên blockchain và nó sẽ không bị hư hỏng. Điều này là sự thật, mặc dù bảo vệ tài sản kỹ thuật số của bạn sẽ yêu cầu bảo mật khóa private bằng cách in ra, tạo ví kỹ thuật số để đựng giống như ví đựng tiền giấy.

Công nghệ blockchain tương đồng với cơ sở dữ liệu, chỉ khác ở việc tương tác với cơ sở dữ liệu. Để hiểu rõ về blockchain và thuật toán của nó hoạt động như thế nào, ta cần nắm được năm định nghĩa hay đặc điểm sau: 

  • Chuỗi khối (blockchain).
  • Thuật toán đồng thuận hay cơ chế phân tán đồng đẳng (Distributed).
  • Tính toán tin cậy (trusted computing).
  • Hợp đồng thông minh (smart contracts).
  • Bằng chứng công việc (proof of work). 

Những đặc điểm chính của công nghệ Blockchain trên cùng với mô hình tính toán của nó chính là nền tảng của việc tạo ra các ứng dụng phân tán về sau.

Chi tiết những đặc tính cơ bản của công nghệ blockchain bao gồm:

Chuỗi khối (The blockchain) 

Một chuỗi khối giống như một nơi để lưu trữ dữ liệu bán công cộng trong một không gian chứa (khối). Bất cứ ai trong hệ thống cũng có thể xác nhận việc bạn nhập thông tin vào vì trong khối chứa có chữ ký của bạn, nhưng chỉ có bạn (hoặc một chương trình) có thể thay đổi được dữ liệu của khối đó vì chỉ có bạn cầm khóa bí mật cho dữ liệu đó.

Vì thế chuỗi khối blockchain hoạt động gần giống như một cơ sở dữ liệu, ngoại trừ phần thông tin được lưu trữ mã hóa và phần header của nó là công khai.

Dữ liệu lưu trữ có thể là bất cứ thông tin gì: một văn bản, hình ảnh, video hoặc một số dư tiền mã hóa. Một chuỗi khối hoạt động như một hệ thống lưu chuyển giá trị thay thế mà không một quyền lực tập trung hay bên thứ ba nào có thể chen vào (vì quá trình hoàn toàn dựa trên mã hóa bảo mật). Nó được dựa trên quyền công khai/ bí mật của chuỗi khối: nhìn thì công khai nhưng kiểm soát là bí mật.

Thuận toán đồng thuận (Distributed)

Thuận toán đồng thuận hay cơ chế phân tán đồng đẳng (Distributed) - Cơ chế này ngược lại với mô hình cổ điển về cơ chế đồng thuận tập trung – nghĩa là khi một cơ sở dữ liệu tập trung được dùng để quản lý việc xác thực giao dịch. Một sơ đồ phân tán đồng đẳng chuyển giao quyền lực và sự tin tưởng cho một mạng lưới phân tán đồng đẳng và cho phép các nút của mạng lưới đó liên tục lưu trữ các giao dịch trên một khối (block) công cộng, tạo nên một chuỗi (chain) độc nhất: chuỗi khối (blockchain). Mỗi khối kế tiếp chứa một “hash” (một dấu tay độc nhất) của mã trước nó; vì thế, mã hóa (thông qua hàm hash) được sử dụng để đảm bảo tính xác thực của nguồn giao dịch và loại bỏ sự cần thiết phải có một trung gian tập trung. Sự kết hợp của mã hóa và công nghệ blockchain lại giúp đảm bảo rằng sẽ không bao giờ một giao dịch được lưu trữ lại hai lần.


Thuật toán đồng thuận của Blockchain. (Nguồn: growupwork.com)

Hợp đồng thông minh (smart contracts)

Công nghệ Blockchain cung cấp nền tảng để khởi chạy hợp đồng thông minh (smart contracts). Đây là những chương trình tự động, ẩn danh chạy trên nền tảng blockchain và thực hiện theo những điều kiện cụ thể để thực hiện một chức năng nào đó.

Ví dụ: Một hợp đồng bảo hiểm mà hành khách sẽ được nhận đền bù tự động khi chuyến bay bị hủy. Trong cuộc sống thực, việc này sẽ mất khá nhiều thời gian để đi đến kết luận cuối cùng, cần phải thẩm định, xác minh, trả tiền cho người nhận đền bù (hành khách). Điều gì sẽ xảy ra nếu toàn bộ quá trình này được tự động hóa với sự tin tưởng, minh bạch và được thực hiện nhờ quá trình bảo mật mã hóa giúp cho hợp đồng thông minh nhận được thông tin rằng chuyến bay đã bị hủy và nó sẽ tự động thực hiện thanh toán đền bù cho hành khách? Và nếu chuyến bay khởi hành đúng giờ, hợp đồng thông minh sẽ tự thanh toán cho hãng máy bay.

Đây thực sự là bước đột phá mang tính cách mạng của blockchain khi nó mang lại sự linh hoạt, tốc độ, bảo mật và tự động hóa hoàn toàn. Điều này có thể tạo nên một hệ thống được tin tưởng tuyệt đối mà vẫn cắt giảm được chi phó. Hợp đồng thông minh có thể được lập trình để thực hiện các hành động mà người dùng cần và tùy theo từng yêu cầu kinh doanh cụ thể.

  • Hợp đồng thông minh: là các dữ liệu kèm trong khối để xây dựng nên các ứng dụng phi tập trung dựa trên nền tảng blockchain. Một hợp đồng thông minh tương đương với một chương trình nhỏ mà bạn có thể tin tưởng với một đơn vị giá trị và quản lý giá trị đó. Ý tưởng cơ bản đằng sau hợp đồng thông minh là sự quản lý bằng khế ước đối với một giao dịch giữa hai bên liên quan hay nhiều hơn có thể được xác minh theo thứ tự thông qua chuỗi khối, thay vì thông qua một quan tòa tập trung. Sao phải dựa vào một quyền lực tập trung trong khi hai hay nhiều bên tham gia có thể đồng thuận lẫn nhau, và khi họ có thể đưa ra các điều khoản và thực thi sự đồng thuận bằng chương trình và các điều kiện, tiền sẽ được chuyển tự động khi hoàn thành một số dịch vụ.
  • Tài sản thông minh: Với công nghệ Blockchain ta có thể liên kết một tài sản thực và một tài sản số trên blockchain một cách an toàn và chính xác, điều mà trước nay không ai có thể làm được. Bạn có thể quản lý tài sản của mình và nó sẽ không thể bị sao chép hay chi tiêu 2 lần (double-spent) hay thuộc sở hữu của 2 người (double-owned).

Ví dụ: Khi so sánh điều này với một file nhạc số, file nhạc số có thể bị sao chép nhiều lần mà không ai kiểm soát được. Mặc dù digital rights management (DRM) (cơ chế quản lý các quyền trên mạng điện tử) được sử dụng song hành cùng luật bản quyền, không có luật nào có hiệu lực theo cách một cơ chế DRM trên nền tảng blockchain có thể làm được. Blockchain mang đến những tính năng khiến DRM có thể được thực thi đầy đủ. 

Tính toán tin cậy (trusted computing)

Khi bạn kết hợp các nền tảng đằng sau chuỗi khối, cơ chế đồng thuận phi tập trung và hợp đồng thông minh, bạn sẽ nhận ra rằng chúng hỗ trợ cho việc truyền bá các nguồn lực và giao dịch theo một cách ngang hàng, và trong khi làm điều đó, chúng cho phép các máy tính tin tưởng và xác thực lẫn nhau ở một mức độ sâu.

Vì vai trò của chuỗi khối là người xác nhận giao dịch minh bạch, mỗi khối ngang hàng có thể tiếp tục tin tưởng lẫn nhau tuân theo các quy luật tin tưởng nằm trong công nghệ này.

Bằng chứng công việc (Proof of work)

Các node tham gia vào hệ thống Blockchain (được gọi là các miner - thợ đào) cùng thực hiện các tính toán để tìm ra hash cho khối block mới thỏa mãn các điều kiện nhất định (điều kiện càng khó thì càng tốn nhiều tài nguyên và thời gian để tính toán). Node nào tính ra kết quả đầu tiên của 1 block mới sẽ được phần thưởng (coin/token).

Và để giành được các phần thưởng, các node cần đẩy nhanh tốc độ và khối lượng tính toán. Tức là phải nâng cấp phần cứng xử lý (máy đào bitcoin). Càng nhiều máy đào mạnh tham gia sẽ giúp tốc độ tính toán của toàn hệ thống tăng lên và thời gian xử lý sinh ra khối mới sẽ ngắn lại.

Bằng chứng công việc là khối then chốt xây dựng nên blockchain vì nó không thể “sửa lại” và được bảo vệ thông qua sức mạnh của hàm hash mã hóa.

Bằng chứng cổ phần (Proof of Stake hay - PoS)

Trái ngược với PoW, thuật toán bằng chứng cổ phần PoS là một cách khác để xác minh các giao dịch. Theo đó người tạo ra khối mới sẽ được lựa chọn một cách ngẫu nhiên, dựa trên giá trị cổ phần (hay còn gọi là stake) của họ có. Người này (các validator - người kiểm định) có trách nhiệm xác nhận tính hợp lệ của các khối mới. Để trở thành một người xác nhận PoS, thì người này phải đặt cọc một khoản tiền nhất định (đó là stake, và khoản tiền này sẽ bị mất nếu người này thực hiện xác nhận một giao dịch gian lận) và người xác nhận chỉ được khai thác.

Và tất nhiên khi xác nhận được một khối thành công và hợp lệ, người xác nhận sẽ nhận được phần thưởng là khoản tiền phí liên quan của các giao dịch tương ứng trong khối đó.  Nếu người này không muốn tiếp tục làm người xác nhận, sau một khoảng thời gian nhất định để xác thực người này đã không thực hiện bất kỳ một xác nhận giả mạo nào, thì cổ phẩn stake và số tiền kiếm được của họ sẽ được hoàn lại vào tài khoản. Như vậy, thuật toán PoS cũng sẽ làm rất mất thời gian và tiền để thực hiện một xác nhận một khối block giả.

PoS được xem là một giải pháp thay thế cho PoW vốn hiệu quả nhưng đòi hỏi rất nhiều tài nguyên trong việc thực hiện các tính toán xử lý. Như vậy thay vì tất các các node đều tham gia vào việc tính toán thì PoS sẽ chỉ làm việc với một số giới hạn các Validator ít hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, việc chọn Validator để xác định khối mới dựa trên số tiền đặt cọc stake nhiều nhất sẽ dấn tới việc tập chung hóa, vốn đi ngược lại với quy luật vì thành viên giàu nhất sẽ có lợi nhiều nhất. Do vậy một số phương pháp lựa chọn Validator khác được đưa ra như “dựa trên các nút ngẫu nhiên” hoặc “dựa trên thời gian nắm giữ tài sản”.

Delegated Proof-of-Stake (Uỷ quyền Cổ phần) 

Phổ biến trong Steemit, EOS, BitShares. Với các ưu điểm như chi phí giao dịch rẻ; có khả năng mở rộng; hiệu suất năng lượng cao. Tuy nhiên vẫn một phần hơi hướng tập trung vì thuật toán này lựa chọn người đáng tin cậy để uỷ quyền.

DPOS là thuật toán đồng thuận phân tán duy nhất có khả năng đáp ứng các yêu cầu về hiệu suất của các ứng dụng trên nền tảng blockchain, Khai thác theo cổ phần uỷ viên (DPOS). Theo thuật toán này, những người nắm giữ các token trên hệ thống nền tảng blockchain của EOS.IO có thể lựa chọn các uỷ viên xây dựng block thông qua một hệ thống bỏ phiếu liên tục phê duyệt và bất cứ ai cũng có thể được lựa chọn để tham gia vào quá trình xây dựng các khối block và sẽ có cơ hội tạo ra khối lượng tỷ lệ thuận với tổng số phiếu bầu họ đã nhận được.


Thuật toán Uỷ quyền Cổ phần Delegated Proof-of-Stake. (Nguồn: growupwork.com)

Proof of Authority (Bằng chứng Uỷ nhiệm)

Đây là mô hình tập trung thường thấy trong POA.Network, Ethereum Kovan testnet. Hiệu suất cao, có khả năng mở rộng tốt.

Proof-of-Weight (Bằng chứng Khối lượng/Càng lớn càng tốt)

Phổ biến trong Algorand, Filecoin. Có thể tuỳ chỉnh và khả năng mở rộng tốt. Tuy nhiên quá trình thúc đẩy việc phát triển sẽ là một thử thách lớn.

Byzantine Fault Tolerance (Đồng thuận chống gian lận)

Phổ biến trong Hyperledger, Stellar, Dispatch, và Ripple. Năng suất cao; chi phí thấp; có khả năng mở rộng. Tuy nhiên vẫn chưa thể tin tưởng hoàn toàn. Thuật toán này có 2 phiên bản là:

  • Practical Byzantine Fault Tolerance (Đồng thuận chống gian lận / Tướng Byzantine bao vây Blockchain trong thực tế).
  • Federated Byzantine Agreement (Liên minh Byzantine cùng đồng thuận).

Directed Acyclic Graphs - DAG (Thuật toán TOPO)

Thuật toán để tìm thứ tự tô pô gọi là thuật toán sắp xếp tô pô. Thứ tự tô pô tồn tại khi và chỉ khi đồ thị không có chu trình. Thường thấy trong Iota (công nghệ Tangle), Hashgraph, Raiblocks/Nano (công nghệ Block-lattice), là một đối thủ của Blockchain.


Cách thức hoạt động của Bockchain. (Nguồn: fptshop.com) 

Ứng dụng được biết đến và thảo luận nhiều nhất về công nghệ Blockchain chính là đồng tiền điện tử. Bitcoin là một đơn vị tiền tệ kỹ thuật số với mã là BTC, cũng giống như đô la Mỹ bản thân nó không mang giá trị, nó chỉ có giá trị bởi vì có một cộng đồng đồng ý sử dụng nó làm đơn vị giao dịch hàng hóa và dịch vụ.

Để theo dõi số lượng Bitcoin mà mỗi người sở hữu trong các tài khoản nhất định và theo dõi các giao dịch phát sinh từ đó thì chúng ta cần đến một cuốn sổ kế toán, trong trường hợp này nó chính là Blockchain và đây thực tế là một tệp kỹ thuật số theo dõi tất cả các giao dịch Bitcoin.


Ledger. (Nguồn: vbpo.com)

Tệp sổ cái này không được lưu trữ trong một máy chủ trung tâm, như trong một ngân hàng hoặc trong một trung tâm dữ liệu mà ngược lại nó được phân phối trên toàn thế giới thông qua một mạng lưới các máy tính ngang hàng với vai trò lưu trữ dữ liệu và thực thi các tính toán. Mỗi máy tính này đại diện cho một “nút” của mạng lưới Blockchain và mỗi nút đều có một bản sao của tệp sổ cái này.

Ví dụ: Nếu David muốn gửi Bitcoin cho Sandra, anh ta sẽ phát một thông báo tới mạng lưới và cho biết số lượng Bitcoin trong tài khoản của mình sẽ giảm 5 BTC và số lượng Bitcoin trong tài khoản của Sandra sẽ tăng lên tương ứng. Mỗi nút trong mạng sau đó sẽ nhận được thông báo này và ánh xạ giao dịch được yêu cầu vào bản sao sổ cái kế toán của họ, và theo đó số dư tài khoản của cả hai bên đều được cập nhật.

Nguyên lý mã hoá


Nguyên lý mã hóa. (Nguồn: vbpo.com)

Trên thực tế, cuốn sổ cái luôn được duy trì bởi các máy tính trong mạng ngang hàng được kết nối với nhau. Vì thế, nó sẽ có một số điểm khác biệt:

- Trong hệ thống ngân hàng, chúng ta chỉ biết các giao dịch và số dư tài khoản của riêng mình thì trên Blockchain của bitcoin bạn có thể xem các giao dịch của tất cả mọi người.​

- Mạng lưới Bitcoin là mạng lưới phân tán không cần bên thứ ba đóng vai trò trung gian xử lý giao dịch.​

- Hệ thống Blockchain được thiết kế theo cách không yêu cầu sự tin cậy và bảo đảm bởi độ tin cậy có được thông qua các hàm mã hóa toán học đặc biệt.​

Để có thể thực hiện các giao dịch trên Blockchain, bạn cần một phần mềm sẽ cho phép bạn lưu trữ và trao đổi các đồng Bitcoin của bạn gọi là ví tiền điện tử. Ví tiền điện tử này sẽ được bảo vệ bằng một phương pháp mã hóa đặc biệt đó là sử dụng một cặp khóa bảo mật duy nhất: khóa riêng tư (private key) và khóa công khai (public key).

Nếu một thông điệp được mã hóa bằng một khóa công khai cụ thể thì chỉ chủ sở hữu của khóa riêng tư là một cặp với khóa công khai này mới có thể giải mã và đọc nội dung thông điệp.

Khi mã hóa một yêu cầu giao dịch bằng khóa riêng tư, có nghĩa là bạn đang tạo ra một chữ ký điện tử được các máy tính trong mạng lưới Blockchain sử dụng để kiểm tra chủ thể gửi và tính xác thực của giao dịch. Chữ ký này là một chuỗi văn bản và là sự kết hợp của yêu cầu giao dịch và khóa riêng tư của bạn.

Nếu một ký tự đơn trong thông điệp yêu cầu giao dịch này bị thay đổi thì chữ ký điện tử sẽ thay đổi theo. Vì thế, hacker khó có thể thay đổi yêu cầu giao dịch của bạn hoặc thay đổi số lượng Bitcoin mà bạn đang gửi.

Để gửi Bitcoin (BTC), bạn cần chứng minh rằng bạn sở hữu khóa riêng tư của một chiếc ví điện tử cụ thể bởi bạn cần sử dụng nó để mã hóa thông điệp yêu cầu giao dịch. Sau khi tin nhắn của bạn đã được gửi đi và được mã hóa thì bạn không cần phải tiết lộ khóa riêng tư của bạn nữa.

Quy tắc của sổ cái

Mỗi nút trong Blockchain đều đang lưu giữ một bản sao của sổ kế toán. Do vậy, mỗi nút đều biết số dư tài khoản của bạn là bao nhiêu. Hệ thống Blockchain chỉ ghi lại mỗi giao dịch được yêu cầu chứ không hề theo dõi số dư tài khoản của bạn.

Để biết số dư trên ví điện tử của mình thì bạn cần xác thực và xác nhận tất cả các giao dịch đã diễn ra trên mạng lưới mà có liên quan tới ví điện tử của bạn.

Việc xác minh “số dư” này được thực hiện nhờ các tính toán dựa vào liên kết đến các giao dịch trước đó. Nhìn vào hình trên, để gửi 10 BTC cho John, Mary cần tạo yêu cầu giao dịch bao gồm các liên kết đến các giao dịch đã diễn ra trước đó với tổng số dư bằng hoặc vượt quá 10 BTC.


Ledger. (Nguồn: vbpo.com)

Các liên kết này được xem như là giá trị đầu vào, các nút trong mạng lưới sẽ xác minh xem tổng số tiền của các giao dịch này bằng hoặc vượt quá 10 BTC không. Tất cả điều này được thực hiện tự động trong ví điện tử của Mary và được kiểm tra bởi các nút trên mạng lưới Bitcoin, Mary chỉ gửi một giao dịch 10 bitcoin tới ví của John bằng khóa công khai của John.


Mạng lưới xác minh. (Nguồn: vbpo.com)

Thực tế là các nút sẽ kiểm tra tất cả các giao dịch có liên quan đến ví tiền điện tử bạn sử dụng trước đó để gửi Bitcoin (BTC) thông qua việc tham chiếu các lịch sử giao dịch. Có một bản ghi sẽ lưu trữ số BTC chưa được dùng và được các nút mạng lưu giữ giúp đơn giản hóa và tăng tốc quá trình xác minh. Vì thế, các ví tiền điện tử tránh được tình trạng chi tiêu đúp giao dịch.

Mã nguồn trên mạng lưới Bitcoin là nguồn mở, có nghĩa là bất kỳ ai có máy tính kết nối được internet đều có thể tham gia vào mạng lưới và thực hiện giao dịch.

Tuy nhiên, nếu có bất kỳ một lỗi nào trong mã nguồn được sử dụng để phát thông báo yêu cầu giao dịch thì các Bitcoin liên quan sẽ bị mất vĩnh viễn.

Hãy nhớ rằng, sẽ không có bộ phận hỗ trợ khách hàng hoặc không hề có bất cứ ai có thể giúp bạn khôi phục lại một giao dịch bị mất hoặc quên mật khẩu ví tiền điện tử của bạn vì đây là mạng phân tán. Vì thế, bạn cần phải lưu trữ mật khẩu hoặc khóa riêng tư của ví của bạn cực kỳ cẩn thận và an toàn.

Nguyên lý tạo khối

Các giao dịch sau khi được gửi lên trên mạng lưới Blockchain sẽ được nhóm vào các khối và các giao dịch trong cùng 1 khối (block) được coi là đã xảy ra cùng thời điểm. Các giao dịch chưa được thực hiện trong 1 khối được coi là chưa được xác nhận.


Nguyên lý tạo khối. (Nguồn: vbpo.com) 

Mỗi nút có thể nhóm các giao dịch với nhau thành một khối và gửi nó vào mạng lưới như một hàm ý cho các khối tiếp theo được gắn vào sau đó. Bất kỳ nút nào cũng có thể tạo ra một khối mới. Vậy, câu hỏi đặt ra là: hệ thống sẽ đồng thuận với khối nào? khối nào sẽ là khối tiếp theo?

Để được thêm vào Blockchain, mỗi khối phải chứa một đoạn mã đóng vai trò như một đáp án cho một vấn đề toán học phức tạp được tạo ra bằng hàm mã hóa băm không thể đảo ngược.

Cách duy nhất để giải quyết vấn đề toán học như vậy là đoán các số ngẫu nhiên, những số khi mà kết hợp với nội dung khối trước tạo ra một kết quả đã được hệ thống định nghĩa. Điều này nhiều khi có thể mất khoảng một năm cho một máy tính điển hình với một cấu hình cơ bản có thể đoán đúng các con số đáp án của vấn đề toán học này.

Mạng lưới quy định mỗi khối được tạo ra sau một quãng thời gian là 10 phút một lần, bởi vì trong mạng lưới luôn có một số lượng lớn các máy tính đều tập trung vào việc đoán ra dãy số này. Nút nào giải quyết được vấn đề toán học như vậy sẽ được quyền gắn khối tiếp theo lên trên chuỗi và gửi nó tới toàn bộ mạng lưới.

Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu hai nút giải quyết cùng một vấn đề cùng một lúc và truyền các khối kết quả của chúng đồng thời lên mạng lưới? Trong trường hợp này, cả hai khối được gửi lên mạng lưới và mỗi nút sẽ xây dựng các khối kế tiếp trên khối mà nó nhận được trước tiên.

Tuy nhiên, hệ thống Blockchain luôn yêu cầu mỗi nút phải xây dựng trên chuỗi khối dài nhất mà nó nhận được. Vì vậy, nếu có sự mơ hồ về việc block nào là khối cuối cùng thì ngay sau khi khối tiếp theo được giải quyết thì mỗi nút sẽ áp dụng vào chuỗi dài nhất.


Chuỗi khối. (Nguồn: vbpo.com) 

Do xác suất việc xây dựng các block đồng thời là rất thấp nên hầu như không có trường hợp nhiều khối được giải quyết cùng một lúc và nhiều lần tạo ra các khối nối đuôi khác nhau. Do đó, toàn bộ chuỗi-khối sẽ nhanh chóng ổn định và hợp nhất lại khi mà mọi nút đều đồng thuận.

Công nghệ blockchain được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau từ cung cấp dịch vụ tài chính đến quản trị hệ thống bỏ phiếu. Dưới đây là các ứng dụng phổ biến nhất của blockchain:

Tiền điện tử

Việc sử dụng blockchain phổ biến nhất hiện nay là tiền điện tử như Bitcoin hoặc Ethereum. Khi mọi người mua, trao đổi hoặc chi tiêu tiền điện tử, các giao dịch được ghi lại trên một blockchain. Càng nhiều người sử dụng tiền điện tử thì blockchain càng có thể trở nên phổ biến hơn.

Ngân hàng

Ngoài tiền điện tử, blockchain đang được sử dụng để xử lý các giao dịch bằng tiền tệ fiat như USD và EUR. Công nghệ này giúp việc gửi tiền qua ngân hàng nhanh hơn và các giao dịch được xác minh nhanh hơn ngoài giờ làm việc bình thường.

Chuyển giao tài sản

Blockchain cũng có thể được sử dụng để ghi lại và chuyển quyền sở hữu các tài sản khác nhau. Công nghệ này hiện đang rất phổ biến với các tài sản kỹ thuật số như NFT - một đại diện cho quyền sở hữu nghệ thuật kỹ thuật số và video.

Bỏ phiếu

Các chuyên gia đang tìm cách áp dụng blockchain để ngăn chặn gian lận trong bỏ phiếu. Về lý thuyết, bỏ phiếu blockchain sẽ cho phép mọi người gửi phiếu bầu không thể bị giả mạo.

Hợp đồng thông minh

Các sổ cái được phân chia cho phép mã hóa các hợp đồng đơn giản, sẽ được thực thi khi những điều kiện nhất định được thỏa mãn. Ethereum là một dự án blockchain mã nguồn mở, được xây dựng đặc biệt để đáp ứng yêu cầu này. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu phát triển, Ethereum có tiềm năng để tận dụng lợi thế của blockchain trên một quy mô lớn hơn như thế rất nhiều.

Ở cấp độ phát triển hiện tại của công nghệ, hợp đồng thông minh có thể được lập trình để thực hiện những chức năng đơn giản. Ví dụ, một giao dịch phát sinh có thể được thanh toán khi công cụ tài chính đáp ứng một số tiêu chuẩn, với việc sử dụng công nghệ blockchain và Bitcoin cho phép thanh toán tự động, không cần sự tham gia của con người hay bên trung gian làm chứng.

Kinh tế chia sẻ

Với những công ty như Uber, AirBnB, nền kinh tế chia sẻ đã chứng minh được những thành công ban đầu. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, người dùng muốn thuê dịch vụ chia sẻ xe phải dựa vào một trung gian là Uber. Bằng cách cho phép thanh toán ngang hàng, blockchain mở ra một cánh cửa mới để tạo sự tương tác trực tiếp giữa các bên, kết quả sẽ dẫn tới kinh tế chia sẻ được thực sự phân quyền.

Mở rộng thị trường gọi vốn

Các sáng kiến thu hút vốn đầu tư như Kickstarter và Gofundme đang "dọn đường" cho nền kinh tế ngang hàng mới nổi này. Những trang web kể trên đã cho thấy mọi người muốn có tiếng nói trực tiếp trong việc phát triển sản phẩm. Blockchain đưa công việc này lên một cấp độ mới nhờ có khả năng tạo ra nguồn vốn mạo hiểm nhiều hơn cho các startup.

Năm 2016, đã có một minh chứng cho điều này. DAO (Decentralized Autonomous Organization), dựa trên Ethereum, đã gây vốn được 200 triệu USD chỉ trong vòng 2 tháng. Những người tham gia mua DAO được vote trên một hợp đồng thông minh về đầu tư mạo hiểm (quyền vote dựa trên số DAO họ đang nắm giữ). Số tiền mà dự án thu được đã chứng minh, dự án được đưa ra không cần thẩm định rủi ro. Như vậy, có thể thấy rằng, blockchain có tiềm năng để mở ra một mô hình mới cho hợp tác kinh tế.

Quản trị

Bằng cách tạo ra những kết quả minh bạch và có thể truy cập công khai, công nghệ cơ sở dữ liệu phân tán có thể mang lại sự minh bạch đầy đủ cho cuộc bầu cử hay bất cứ hình thức thăm dò nào khác. Những hợp đồng thông minh dựa trên Ethereum sẽ giúp tự động hóa toàn bộ quá trình.

Ứng dụng như Boardroom, cho phép tổ chức ra quyết định trên blockchain, nhờ đó giúp quá trình quản trị công ty trở nên minh bạch, kiểm chứng được tài sản số, sự công bằng hay những thông tin nội bộ.

Giám sát chuỗi cung ứng

Người tiêu dùng ngày càng muốn biết rằng có bao nhiêu phần trăm sự thật trong những tuyên bố về tiêu chuẩn sản phẩm của các công ty. Blockchain cung cấp cách thức xác nhận dễ dàng rằng những sản phẩm chúng ta mua là chính hãng. Tính minh bạch đi kèm với dấu thời gian dựa trên blockchain của ngày tháng, vị trí - ví dụ, trên viên kim cương, sẽ tương ứng với số sản phẩm.

Ở Anh có thể kiểm tra nguồn gốc xuất xứ của những mặt hàng tiêu dùng thông qua chuỗi cung ứng. Sử dụng blockchain Ethereum, dự án thí điểm kiểm tra chất lượng đảm bảo rằng cá được bán trong các nhà hàng Sushi của Nhật đã được các nhà cung cấp cá ở Indonesia khai thác đúng cách.

Lưu trữ file

Việc lưu trữ phân quyền trên Internet mang lại những lợi ích rõ rệt. Phân phối dữ liệu trong toàn mạng giúp bảo về các file không bị tấn công hoặc bị mất.

Inter Planetary File System (IPFS) giúp dễ dàng khái niệm hóa cách thức một trang web phân tán có thể hoạt động. Tương tự như cách bittorrent di chuyển dữ liệu trên Internet, IPFS sẽ loại bỏ nhu cầu về các mối quan hệ giữa máy chủ, máy khách. Một mạng Internet được tạo thành từ những trang web phân tán hoàn toàn có khả năng tăng tốc độ truyền file và thời gian stream. Sự cải tiến này không chỉ thuận tiện mà còn là một nâng cấp cần thiết cho những hệ thống phân phối nội dung trên web hiện đang quá tải.

Dự đoán thị trường

Sự chính xác của một sự kiện sẽ cao hơn khi có càng nhiều dự đoán về xác suất của sự kiện đó, điều này đã được chứng minh. Những sai lệch chưa được khảo sát có thể dẫn đến những phán đoán sai lầm. Việc lấy ý kiến trung bình từ những dự đoán sẽ giúp triệt tiêu bớt những sai lệch đó. Đã có những ứng dụng đầu tiên áp dụng blockchain trong việc dự đoán thị trường. Ví dụ như Augur, ứng dụng dự đoán thị trường còn đang trong giai đoạn phát triển. Nó đưa ra lời đề nghị chia sẻ về kết quả của các sự kiện trong thế giới thực. Người tham gia có thể kiếm tiền bằng cách mua vào những dự đoán chính xác. Càng nhiều cổ phiếu được mua vào theo dự đoán đúng, số tiền nhận được càng cao. Với một khoản đầu tư nhỏ (ít hơn 1$), bất kỳ ai cũng có thể đặt câu hỏi, tạo một thị trường dựa trên kết quả dự đoán và

7.1. Ưu điểm

  • Độ chính xác cao hơn của các giao dịch: Bởi vì một giao dịch blockchain phải được xác minh bởi nhiều nút. Điều này có thể giảm thiểu lỗi.
  • Không cần trung gian: Khi sử dụng blockchain, hai bên trong một giao dịch có thể xác nhận và hoàn thành điều gì đó mà không cần làm việc thông qua bên thứ ba. Điều này giúp tiết kiệm thời gian cũng như chi phí thanh toán cho một đơn vị trung gian như ngân hàng.
  • Bảo mật bổ sung: Về mặt lý thuyết, một mạng lưới phi tập trung, như blockchain khiến ai đó gần như không thể thực hiện các giao dịch gian lận. Để tham gia vào các giao dịch giả mạo, họ sẽ cần phải hack mọi nút và thay đổi mọi dữ liệu của sổ cái.
  • Chuyển tiền hiệu quả hơn: Vì các blockchain hoạt động 24/7 nên mọi người có thể thực hiện chuyển tiền tài chính và tài sản hiệu quả hơn, đặc biệt là trên phạm vi quốc tế. Họ không cần phải đợi nhiều ngày để ngân hàng hoặc cơ quan chính phủ xác nhận mọi thứ theo cách thủ công.

7.2. Nhược điểm

  • Giới hạn giao dịch mỗi giây: Blockchain phụ thuộc vào một mạng lưới lớn hơn để phê duyệt các giao dịch nên có một giới hạn về tốc độ di chuyển của nó. Chẳng hạn, Bitcoin chỉ có thể xử lý 4,6 giao dịch mỗi giây.
  • Chi phí năng lượng cao: Việc để tất cả các nút hoạt động để xác minh giao dịch tốn nhiều điện hơn đáng kể so với một cơ sở dữ liệu hoặc bảng tính đơn lẻ. Điều này không chỉ làm cho các giao dịch dựa trên blockchain trở nên đắt hơn mà còn tạo ra gánh nặng hơn cho môi trường.
  • Rủi ro mất mát tài sản: Một số tài sản kỹ thuật số được đảm bảo sử dụng một khóa mật mã như cryptocurrency trong một chiếc ví blockchain. Bạn cần bảo vệ cẩn thận chìa khóa này. Nếu chủ sở hữu tài sản kỹ thuật số đánh mất khóa mật mã riêng tư cho phép họ truy cập vào tài sản của mình thì hiện tại không có cách nào để khôi phục nó và tài sản đó sẽ biến mất vĩnh viễn.
  • Có khả năng xảy ra hoạt động bất hợp pháp: Sự phân quyền của blockchain bổ sung thêm quyền riêng tư và bảo mật. Điều này không may làm cho nó trở nên hấp dẫn đối với bọn tội phạm. Thật khó để theo dõi các giao dịch bất hợp pháp trên blockchain hơn là thông qua các giao dịch ngân hàng được gắn với một cái tên.

Hệ thống Blockchain được chia thành 3 loại chính sau:

  • Public Blockchain: Bất kỳ ai cũng có quyền đọc và ghi dữ liệu trên Blockchain. Quá trình xác thực giao dịch trên Blockchain này đòi hỏi phải có hàng nghìn hay hàng vạn nút tham gia. Do đó để tấn công vào hệ thống Blockchain này là điều bất khả thi vì chi phí khá cao. 

Ví dụ: các đồng Bitcoin, Ethereum…

  • Private Blockchain: Người tham gia chỉ được quyền đọc dữ liệu, không có quyền ghi vì quyền này thuộc về bên tổ chức thứ ba tuyệt đối tin cậy. Tổ chức này cũng có thể hoặc không cho phép người dùng đọc dữ liệu trong một số trường hợp. Bên thứ ba toàn quyền quyết định mọi thay đổi trên Blockchain. Ưu thế của Private Blockchain là thời gian xác nhận giao dịch khá nhanh vì chỉ cần một lượng nhỏ thiết bị của tổ chức tin cậy tham gia xác thực giao dịch. 

Ví dụ: Đồng Ripple là một dạng Private Blockchain, hệ thống này cho phép 20% các nút là gian dối và chỉ cần 80% còn lại hoạt động ổn định là được.

  • Permissioned Blockchain (consortium): Hay còn có tên gọi là Consortium, đây một dạng của Private nhưng bổ sung thêm một số tính năng nhất định của Public, kết hợp giữa “niềm tin” khi tham gia vào Public và “niềm tin tuyệt đối” khi tham gia vào Private. Ví dụ: Các ngân hàng hay tổ chức tài chính liên doanh sẽ sử dụng Blockchain cho riêng mình.

Ví dụ: Đồng Libra của Facebook mới đây. Là một đồng tiền crypto và hệ sinh thái blockchain được thiết kế mới và quy trình vận hành kỹ lưỡng hơn so với các đồng tiền crypto trước đó. Libra và hệ sinh thái của nó dự tính sẽ chính thức launch toàn cầu vào trong khoảng đầu năm 2020.

Công nghệ Blockchain 1.0 – Tiền tệ và thanh toán

Công dụng chính của phiên bản này là giải quyết các công việc liên quan đến tiền mã hoá: bao gồm việc chuyển đổi tiền tệ, kiều hối và tạo lập hệ thống thanh toán điện tử. Đây cũng là lĩnh vực quen thuộc với chúng ta nhất mà đôi khi khá nhiều người lầm tưởng Bitcoin và Blockchain là một.

Công nghệ Blockchain 2.0 – Tài chính và thị trường

Phiên bản này được thiết kế để ứng dụng xử lý tài chính và ngân hàng: mở rộng quy mô của Blockchain, áp dụng các nền tảng tài chính và thị trường. Các tài sản bao gồm cổ phiếu, chi phiếu, nợ, quyền sở hữu và bất kỳ thông tin gì có liên quan đến thỏa thuận hay hợp đồng.

Công nghệ Blockchain 3.0 – Thiết kế và giám sát hoạt động

Phiên bản này giúp Blockchain vượt khỏi lĩnh vực tài chính, và đi vào các lĩnh vực như giáo dục, chính phủ, y tế và nghệ thuật.

Công nghệ blockchain giải quyết các vấn đề về bảo mật và sự tin tưởng theo một số cách. Đầu tiên, các block (khối) mới luôn được lưu trữ tuyến tính và theo thứ tự thời gian. Nghĩa là, chúng luôn được thêm vào “phần cuối” của blockchain. Nếu nhìn vào blockchain của Bitcoin, bạn sẽ thấy rằng mỗi block có một vị trí trên chuỗi, được gọi là “chiều cao”. Tính đến tháng 11 năm 2020, cho đến nay chiều cao của block đã đạt 656.197.

Sau khi một block đã được thêm vào cuối blockchain, rất khó để quay lại và thay đổi nội dung của block, trừ khi được đa số đồng thuận. Đó là bởi vì mỗi block chứa hàm hash riêng của nó, cùng với hàm hash của block trước nó, cũng như timestamp (dấu thời gian) đã đề cập trước đó. Hash code được tạo ra bởi một hàm toán học biến thông tin kỹ thuật số thành một chuỗi số và chữ cái. Nếu thông tin đó được chỉnh sửa theo bất kỳ cách nào, hash code cũng sẽ thay đổi.

Đây là lý do tại sao điều đó quan trọng đối với bảo mật. Giả sử một tin tặc muốn thay đổi blockchain và đánh cắp Bitcoin từ những người khác. Nếu chúng thay đổi bản sao duy nhất của mình, bản sao đó sẽ không còn khớp với bản sao của người khác nữa. Khi mọi người khác tham chiếu chéo các bản sao của họ với nhau, họ sẽ thấy bản sao này khác biệt và phiên bản chuỗi của hacker đó sẽ bị loại bỏ vì được coi là bất hợp pháp.

Nếu muốn hack thành công, hacker phải đồng thời kiểm soát và thay đổi 51% các bản sao của blockchain để bản sao mới trở thành bản sao chính. Một cuộc tấn công như vậy cũng sẽ yêu cầu một lượng lớn tiền và tài nguyên vì sẽ cần phải thực hiện lại tất cả các block vì giờ đây, chúng có các timestamp và hash code khác nhau.

Do quy mô của mạng Bitcoin và tốc độ phát triển của nó, chi phí bỏ ra để đạt được kết quả như vậy có lẽ không đáng. Điều này không chỉ cực kỳ tốn kém mà còn có thể không mang lại kết quả. Làm một điều như vậy rất vô nghĩa, vì các thành viên mạng sẽ thấy được những thay đổi lớn đối với blockchain, sau đó sẽ chuyển sang phiên bản mới của chuỗi để không bị ảnh hưởng.

Điều này sẽ khiến phiên bản Bitcoin bị tấn công giảm mạnh về giá trị, khiến cuộc tấn công cuối cùng trở nên vô nghĩa, vì kẻ xấu chỉ giành được quyền kiểm soát một tài sản vô giá trị. Điều tương tự cũng sẽ xảy ra nếu kẻ xấu tấn công fork (một chuỗi thay thế mới được tạo ra khi các bên tham gia không thống nhất quan điểm về trạng thái tương lai của blockchain) mới của Bitcoin. Nó được xây dựng theo cách này để khuyến khích việc tham gia vào mạng về mặt kinh tế nhiều hơn là tìm cách tấn công.

Một số ngành công nghiệp ứng dụng nền tảng công nghệ Blockchain như sau:

  • Công nghệ ô tô Automotive (Automotive).
  • Chế tạo (Manufacturing).
  • Công nghệ, truyền thông và viễn thông (Tech, media & Telecommunications).
  • Dịch vụ tài chính (Financial Services).
  • Nghệ thuật & Giải trí (Art & Recreation).
  • Chăm sóc sức khỏe (Healthcare).
  • Bảo hiểm (Insurance).
  • Bán lẻ (Retail).
  • Khu vực công (Public Sector).
  • Bất động sản (Property).
  • Nông nghiệp (Agricultural).
  • Khai thác (Mining).
  • Vận tải và Logistics (Transport & Logistics).
  • Công trình hạ tầng kỹ thuật (Utility).
blockchain